CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO
CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO
 

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

  • 0 Đánh giá
    0 Đã bán
  • Giá : Chọn phân loại sản phẩm
  • https://sites.google.com/site/thienchaucom/--chon-phap-luyen-dha
Số lượng:  
Số lượng hàng : 50
Tên CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO
Xuất sứ Việt Nam
Thương hiệu TỦ SÁCH NÓI CAO ĐÀI
Phạm vi giao hàng Toàn Quốc
Màu sắc
Tình trạng Mới
Mã sản phẩm
Lượt xem 106
Nhà bán hàng
Kho hàng 50
Công suất
Bảo hành
Vận chuyển từ -

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO

LUYỆN ÐẠO TU HÀNH

Ðây Thầy minh về chương "LUYỆN ÐẠO" cho tất cả chúng-sanh tường thức tu hành đặng thoát kiếp tử sanh cho kịp cơ tấn hoá.

Ðại-Ðạo hoằng khai trải chín niên dư, mối chơn-truyền chưa phải thời kỳ phát lộ, là vì đương buổi phôi-khai phổ độ, để lần lần cho người tầm đến chỗ cao siêu.

Ngày nay Ðạo đã trải qua thời kỳ phổ-thông mà bước đến thời kỳ giáo-hoá, nên chi Thầy mới giáng cho một pho kinh ÐẠI-THỪA TÂM-PHÁP để cho các con tầm lối băng về.  Noi theo giáo lý của Thầy đây chắc là thoát khỏi bến mê, bể khổ.

Các con phần nhiều tu có tu, mà hành không chịu hành.  Tu là sao?  Hành cách nào? Chữ Tu Hành các con hằng nói mà các con không chịu tham khảo cho ra cái nguyên lý của chữ "Tu Hành", rồi tu mãi không thấy ấn chứng (chẳng thành) thì các con lại ố Ðạo của Thầy mà theo kẻ manh sư, lạc vào bàng môn ngoại Ðạo.

Thầy chỉ sơ cho các con tường chỗ Ðạo:

Ðạo Thầy là vô-vi thì dẫu cho sự chi cũng dùng vô-vi mà chuyển hóa.  Cái tâm-pháp bí-truyền của Tam-Giáo Thánh-Nhơn xưa kia với cái tâm-pháp bí-truyền ngày hôm nay cũng một, nhưng cái nền tảng giáo lý xưa kia rất cao siêu, tuyệt diệu, để khẩu truyền tâm thọ cho những người thượng-đạt, kẻ hiền nhân, chớ những hạng trung-trí, hạ-ngu có dễ gì truy tầm cơ nguyên của Ðạo.  Lần lần trải qua trong mấy thời kỳ, nhơn tâm biến đổi, xu hướng về lối vật chất phế bỏ tinh-thần, nên chi cái tâm-pháp lu lần là tại người tầm không thấu nỗi.

Ngày nay Thầy thấy ba nền giáo-lý đã xiêu bè, xiêu đổ, làm cho nhơn-sanh không biết đâu mà tế độ đặng trông vào.  Thầy mới giáng thế khai Chơn-Ðạo đặng trao mối chuẩn-thằng tâm-pháp cho các con nào có thiện-duyên, lo tu luyện mà thoát miền trần thế.

Thi:

Ðạo mầu nguyên tố ở đâu ra?

CHIÊU xuất chơn-linh đến Bửu-Tòa,

Học pháp huyền-cơ truyền lại thế,

Luyện thành Tiên, Phật, dứt tiêu ma.

Phú:

Ðạo chuyển độ hồng trần phát hóa, tỉnh giấc nồng, đời mau khá níu-nương theo.

Thầy nhìn con lụy đổ chua xót bỡi con nghèo,

Nên chi phải lựa thế, lựa dèo, bảo tồn cho đời an trị,

Nay đã đến thời kỳ Phật, Thánh, Tiên lập vị,

Hội Long Hoa là ngày phán-đoán, ai mưu tà, chước quỉ phải bị đọa-đày.

Bảng Phong-Thần trước mắt, cuộc dữ-dằn là cuối buổi tương-lai,

Thầy mới đến hoằng-khai chơn-truyền Ðại-Ðạo.

Thi:

Ðạo-đức ngày nay đã lố mòi,

Ðạo mầu rực rỡ tợ trăng soi,

Ðạo minh chơn lý đời thông suốt,

Ðạo pháp luyện thành rất hiếm hoi.

Thi Bài:

Hiếm hoi cuộc thế xây vần,

Long-Hoa đăng bảng Phong-Thần chẳng lâu.

Thấy đời có biết gì đâu,

Không lo luyện tập Ðạo mầu thoát mê.

Cả mang tội-lỗi nặng nề,

Trong vòng tứ khổ khó bề lánh tai.

Cuộc trần nhiều lối chông gai,

Trời hôm bước khéo lạc-loài mạng nguy.

Thầy thương mở lượng từ bi,

Giáng trần khai hóa Tam-Kỳ hạ nguơn.

Nay là đúng cuộc tuần huờn,

Phật, Tiên giáng thế ra ơn độ đời.

Chấn hưng giáo-lý Ðạo Trời,

Hầu toan đánh thức người đời tỉnh say.

Bảo tồn cho cuộc tương lai,

Dựng gầy nền tảng Cao-Ðài Tiên-Thiên.

Luận qua bí-pháp tâm-truyền,

Phương châm tu luyện mối-giềng xưa nay.

Ðạo là một cái gia tài,

Lưu-truyền giữ mãi tháng ngày không hư.

Biết tầm Ðạo, chọn Minh-Sư,

Thọ lời bí khuyết cũng như thành rồi.

Phương chi thoát khỏi luân-hồi,

Chỉ nhờ pháp nhiệm phủi rồi nghiệp duyên.

Muốn làm nên Phật, Thánh, Tiên,

Làm chi cũng học pháp-huyền luyện đơn.

Luyện thành một vị Chơn-Nhơn,

Muôn năm bền vững chẳng sờn hư tan.

Các con phải hiểu, phải tàng,

Ðạo Thầy u-ẩn, minh-quang tâm-điền.

Con nào hữu kiếp thiện-duyên,

Gặp Minh-Sư chuyển diệu-huyền nơi tâm.

Tu đừng luận phải nhiều năm,

Có duyên đặng ngộ Ðạo ngầm chuyển luân.

Tâm thần phát hiện kết ngưng,

Võ văn chế luyện có chừng thì thôi.

Công phu bốn buổi xong rồi,

Ðể giờ tu tịnh đắp bồi linh-căn.

Xử tròn nợ thế Ðạo hằng,

Làm ăn cứ việc làm ăn như thường.

Nhưng mà đừng có vấn-vương,

Ðừng đem vào dạ, đừng thương ghét người.

Ðạo càng cao, đức càng tươi,

Dầu ai nhục mạ cũng cười làm vui.

Trái-oan con gỡ cho xuôi,

Nhơn-tình qua lại, tới lui, bớt lần.

Một mình ẩn dạng tu thân,

Ngồi thiền định tưởng xuất thần cho quen.

Ðừng cho ngoại vật lấn xen,

Tâm-hồn mê-muội như đèn lụn tim.

Ngồi nằm kiếm chỗ im-lìm,

Lúc mê, giấc ngủ, lim-dim xuất hồn.

Nhưng mà tập đặng lớn khôn,

Mới nên phá cửa Thiên-Môn ra ngoài.

Còn non yếu ớt lạc-loài,

Sợ e ma quỉ cản đài giáng thăng.

Thi:

Thăng bình cơ hội rán đua tranh,

Lập vị nhờ chưng luyện Ðạo thành,

Thành chánh-quả cao an Thánh-thể,

Tầm trong bí-khuyết đặng tu hành.

Thầy ban ơn các con.  

 Thầy thăng.

PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH -thời- ĐẠI ÂN XÁ

Đại Ân Xá là gì ?

 

Đại Ân Xá hay Đại Xá là Đức Chí Tôn ban ơn huệ lớn lao bằng cách tha thứ tội lỗi cho những kẻ có tội.

Kể từ ngày khai ĐĐTKPĐ, tức là khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở ra một thời kỳ ĐạiÂn Xá cho các đẳng linh hồn trong càn khôn thế giới và cho toàn cả chúng sanh, để chúng sanh tu hành dễ bề đắc đạo. Cho nên ĐĐTKPĐ cũng được gọi là Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải tà qui chánh, lập lời Minh Thệ, nhứt quyết  tu hành, lập công bồi đức. Những tội lỗi của họ đã chồng chất từ nhiều kiếp trước được Ơn Trên cất giữ lại (không đem ra trừng phạt) và cho họ làm một tân dân (người dân mới) trong cửa Đạo, nhờ vậy người nhập môn hành đạo rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Đạo hạnh, lập công bồi đức, để sau cùng lấy công đức trừ dứt tội tình, thì có thể đắc đạo trong một kiếp tu.

Ngày khai Đạo Cao Đài là ngày 15-10-Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Đức Chí Tôn ban cho nhơn loại các đặc ân sau đây :

1. Tha thứ tội lỗi ở các kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, nhập môn cầu đạo, lập Minh Thệ với Đức Chí Tôn, nhứt tâm tu hành. Cho nên trong Kinh Giải Oan (KGO) và Kinh Cầu Bà con Thân bằng Cố hữu đã qui liễu (KCBCTBCHĐQL) có các câu sau đây :

     May đặng gặp hồng ân chan rưới,

     Giải trái oan sạch tội tiền khiên. (KGO)

     Chí Tôn xá tội giải oan,

     Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.

     Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,

     Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

    (KCBCTBCHĐQL)

2. Đức Chí Tôn đặc ân cho các tín đồ Cao Đài, khi chết, linh hồn được Cửu vị Tiên Nương hướng dẫn đi lên 9 từng Trời của Cửu Trùng Thiên, mỗi nơi đều được quan sát các cảnh Trời đẹp đẽ mà dưới thế gian không bao giờ có, đến bái kiến các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đến Minh Cảnh Đài để xem xét tất cả hành vi thiện ác của mình đã gây ra trong suốt kiếp sống nơi cõi trần, đến DTC ở từng Trời Tạo Hóa Thiên để bái kiến Đức Phật Mẫu, rồi tiếp tục đi lên Ngọc Hư Cung bái kiến Đức Chí Tôn để cây Cân công bình thiêng liêng của Tòa Tam Giáo cân tội phước.

Phước nhiều thì được phong thưởng bằng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Nếu tội nhiều thì bị đưa đến cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí xét mình, cầu nguyệnĐức Chí Tôn độ rỗi. Tại đây có Thất Nương DTC giáo hóa các nữ tội hồn và Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn.

3. Đức Chí Tôn cho đóng cửa Địa ngục. Các tội hồn không còn bị hành hình thảm khốc nơi Địa ngục như trước nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Đạo, cầu khẩn Đức Chí Tôn cứu rỗi, chờ ngày tái kiếp trở lại cõi trần để trả cho xong nghiệp quả.

4. Đức Chí Tôn cho mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những người đầy đủ công đức đắc đạo. Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng có thể đắc đạo. “ Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong càn khôn thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng.” 

       Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

   Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương. (KGO)

5. Những người bị tội Tận đọa Tam đồ bất năng thoát tục được ân xá, những người bị tội Ngũ Lôi tru diệt, cũng nhờ Đại Ân Xá nầy mà được Đức Phật Mẫu huờn lại chơn thần, tất cả đều đặng tái kiếp lập công chuộc tội.

Thời kỳ Đại Ân Xá không phải kéo dài đến thất ức niên (700 000 năm) mà chỉ được giới hạn trong khoảng thời gian từ ngày Khai Đạo cho đến khi Đức Di-Lạc Vương Phật mở Đại Hội Long Hoa là chấm dứt, vì đã bước vào một thời kỳ tiến hóa khác của nhơn loại.

Chúng ta hôm nay gặp Đạo Cao Đài, được làm môn đệ của Thượng Đế, là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau mau bước chân vào cửa Đạo lo việc tu hành, lập công bồi đức, cứ để dần dà ngày tháng trôi qua, có mong chi đắc đạo  trở về ngôi vị cũ.

 

Hai giai đoạn tu hành

Trong công việc tu hành, phải trải qua 2 giai đoạn:

-  Giai đoạn làm công quả.

-  Giai đoạn luyện đạo.

1.  Giai đoạn làm công quả.

Làm công quả là làm tất cả công việc có tính cách giúp người giúp đời mà không nhận sự đền đápbằng tiền bạc hay vật chất nơi cõi trần nầy, mà chỉ mong nhận được kết quả tốt đẹp cho phần linh hồn nơi cõi thiêng liêng.

Trong việc công quả nầy, trước hết là phải lo phổ độ nhơn sanh bỏ ác theo lành, nhập môn vào Đạo, và tiếp theo là lo giúp đỡ nhơn sanh về đời sống vật chất và tinh thần, gọi chung là phụng sự nhơn sanh. Giai đoạn làm công quả nầy còn được gọi là : Ngoại giáo công truyền.

Chúng ta tùy theo khả năng và sở thích, có thể lựa một trong ba cơ quan để làm công quả sau đây :

a)  Cửu Trùng Đài :

Chúng ta làm công quả đi từ phẩm thấp nhất là Đạo hữu, lần lần lên Chức việc Bàn Trị Sự. Khi đủ công nghiệp thì cầu phong lên hàng Lễ Sanh, rồi tiếp tục làm công quả để tiến lên hàng Thánh thể của Đức Chí Tôn, sau cùng được thăng lên các phẩm cao cấp là : Đầu Sư, Chưởng Pháp, đứng vào Tiên vị. Làm công quả để tiến hóa như vậy gọi là đi theo phẩm trật Cửu phẩm Thần Tiên hay Cửu Thiên Khai Hóa. Trong số các Chức sắc tiền bối, Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh (1906-1985) đã làm công quả trong hơn 30 năm, đi từ phẩm Đạo hữu, rồi Chánh Trị Sự và sau cùng lên tới phẩm Đầu Sư.

b) Hiệp Thiên Đài :

Nếu chúng ta muốn làm công quả nơi HTĐ thì phải thi tuyển vào phẩm Luật Sự của Bộ Pháp Chánh, rồi dần dần lập công, thăng lên phẩm Sĩ Tải, đi hết 7 phẩm cấp của Bộ Pháp Chánh là đến Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, sau cùng có thể tiến lên phẩm vị Thời Quân khi có công phổ độ một nước, và được ân phong đặc biệt của Đức Chí Tôn.

c) Cơ Quan Phước Thiện :

Nếu muốn lập công nơi CQPT, chúng ta phải xin giấy chứng nhận do Bàn Trị Sự và Tộc Đạo nơi mình ở cấp cho, rồi nạp hồ sơ vào cơ sở Phước Thiện mà mình muốn lập công, làm Tờ Hiến Thân vào Hội Thánh Phước Thiện.

Người mới vào làm công quả nơi cơ sở lương điền hay công nghệ của CQPT thì gọi là Đạo sở. Sau thời gian 6 tháng thì được vào Minh Đức, là phẩm thấp nhứt trong Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT. Làm công quả nơi CQPT gọi là tiến hóa theo Thập nhị đẳng cấp th. liêng.

* Ngoài ra những vị Đạo hữu nào có tay nghề chuyên môn đặc biệt như nghề đờn, nghề xây dựng, . . . thì có thể xin lập công quả nơi các cơ quan chuyên môn của Đạo như : Bộ Nhạc Lễ, Ban Kiến Trúc, vv. . . .

2.  Giai đoạn tu luyện.

Khi đã lập công bồi đức đầy đủ rồi thì mới được tuyển vào Tịnh Thất, có Tịnh chủ dạy cho luyện đạo.

Trong phép luyện đạo của Đạo Cao Đài, Tịnh chủ dạy cho cách luyện Tam bửu Tinh Khí Thần hiệp nhứt, để được Tam hoa tụ đảnh, Ngũ khí triều nguơn, tạo được chơn thần huyền diệu, có thể xuất nhập thể xác tùy ý mà vân du đến các cõi thiêng liêng. Ấy là đắc đạo tại thế.

Nhưng làm sao biết được có công đức đầy đủ ?

Đức Phạm Hộ Pháp giải thích : “ Trước khi vào tịnh thì phải có đủ Tam Lập : Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn.

Nơi cửa Đạo đặt ra việc chi đều hữu ích cả, mượn Thể Pháp tượng trưng mới đoạt Bí Pháp. Trước kia Bần đạo Lập Phạm Môn tại Tòa Thánh tượng trưng cửa Phật độ sanh hồn, tức nhiên gọi Phật; Minh Thiện Đàn mở tại Khổ Hiền Trang, Bần đạo khai Thể Pháp tại đó, gọi là Pháp, Phước Thiện ngày nay đã ra thiệt hiện, tức nhiên ra mặt xã hội, gọi là Tăng, thì nó sẽ bành trướng vận chuyển lưu hành cùng khắp xã hội nhơn quần, nghĩa là phải phụng sự toàn thể chúng sanh, tế khổ phò nguy, đi Đầu Họ Đầu Quận làm hậu thuẫn cho Hội Thánh CTĐ, lo cơ tận độ, chỉ có công phổ độ mới giải quả tiền khiên. Ai không xuất thân hành đạo, tức là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì không đủ Tam Lập.

Trước khi xin vào, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài Đời không án tiết, trong cửa Đạo cũng vậy, trọn tùng luật pháp Đạo và trường trai mới được, rồi giao cho Pháp Chánh minh tra về Thể Pháp đủ bằng chứng.

Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn nhiều điều trọng yếu về vô vi, không thế gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm vậy, Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi.

Khi minh tra đủ lẽ, mới giao cho Hộ Pháp cân thần, nếu vị nào đủ Tam Lập thì vào tịnh được, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận, đi hành đạo nữa.

Nói rõ là phải có Hộ Pháp trục thần khai khiếu mới biết đặng đủ hay thiếu Tam Lập, còn không thì ngồi tịnh, bụng lớn vô ích.” (Trích Diễn Văn và Thuyết đạo ĐHP trang 163)

        Chú thích : CÂN THẦN : Cân thần là Đức Hộ Pháp trục chơn thần của một vị công quả để Đức Ngài dùng cặp mắt thiêng liêng xem xét tánh chất của vị công quả đó. Có tất cả 12 tánh chất :

1. Hạnh            4. Lực                7. Thân         10. Căn

2. Đức              5. Tinh                          8. Tín            11. Kiếp

3. Trí                6. Thần                          9. Mạng        12. Số.

Đức Hộ Pháp chỉ cần 4 tánh chất đầu. Thí dụ nếu có được :

1. Hạnh : 5 điểm.         3. Trí  :  4 điểm.

2. Đức   : 6 điểm.         4. Lực : 7 điểm.

Tổng cộng : 22 điểm, chia 4 để lấy trung bình = 5,5 điểm.

Như vậy là đậu, tức là xem như “đủ Tam lập”.

Giai đoạn học Bí pháp luyện đạo trong Tịnh Thất còn được gọi là : Nội giáo vô vi, hay Tâm pháp bí truyền.

BÍ PHÁP 5 CUNG.

 

1.- HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN
2.- PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN
3.- TẠO HÓA HUYỀN THIÊN
4.- HƯ VÔ CAO THIÊN
5.- HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN
 
 
Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp có kể lại khi Đức Ngài phục lịnh xuống thế mở Đạo, Đức Chí Tôn có hỏi: “Con mở Thể Pháp trước hay Bí Pháp trước?” Đức Ngài xin mở Bí Pháp trước, Đức Chí Tôn bảo rằng: “Nếu mở Bí Pháp trước, đời sẽ thấy cơ huyền diệu, xúm nhau dành giựt tàn hại thì cơ Đạo sẽ ra thế nào? Còn thể Pháp là hữu hình hửu hoại, miển mặt Bí Pháp còn thì Đạo còn.”
 
Lời dạy trên đây cho chúng ta hiểu: Dù Thể Pháp hoặc là Bí Pháp của Đạo Cao Đài cũng đều do chính tay của Hộ Pháp.
 
Đàn cơ tại Chợ Lớn ngày 11 và 12-3 năm Bính Dần (1926), Đức Ngài đã được Chí Tôn trục thần. Từ đây Đức Ngài là HỘ PHÁP THIÊN TÔN, Đức Chí Tôn hữu hình khai Đạo đúng ngày rằm tháng 10 Bính Dần. Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, Giáo Chủ Đạo Cao Đài tại thế đó vậy.
 
Còn Đức Chí Tôn vô vi Chưởng Quản Bát Quái Đài đã định nền Chánh Giáo phải trải qua nhiều giai đoạn để phù hợp với chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ và đúng với luật thay đổi của cơ Tạo Hóa. Do đó mà giai đoạn Thể Pháp từ khi khai Đạo cho đến lúc ban hành Đạo Lịnh số/HT-ĐL ngày 04-2-Kỷ Mùi (03-01-1979) đã kết liểu lời quyết định của Đức Chí Tôn đối với Thể Pháp, tức là cả cơ thể hữu vi của Đạo đến thời buổi giải thể đặng chuyển sang Bí Pháp.
 
Cũng may cho nhơn sanh. Khi Đức Hộ Pháp còn tại thế đã cho biết danh phẩm và Chơn Linh các Đấng Thiêng Liêng xuống thế mang xác phàm mở Đạo Cao Đài.
 
Trong đó, Đức HIẾN PHÁP là Phật QUAN ÂM. Nên lúc lưu vong qua Kiêm Biên, Đức Hộ Pháp ủy nhiệm cho Hiến Pháp thay thế tại Tòa Thánh Tây Ninh, cầm giềng mối Đạo cả Hiệp Thiên Đài lẫn Cửu Trùng Đài, và Thánh Giáo tại Cung Đạo Đền Thánh đêm 16 và 17-04 Quí Sửu (18-19-05-1973) Đức Lý Đại Tiên Nhứt Trấn Oai Nghiêm đồng ý với Đức Hộ Pháp ban đặc quyền cho Hiến Pháp, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
 
Nói về Pháp Chánh Truyền thì Hiến Pháp nắm mật pháp nên Đức Hộ Pháp đã giao cho Đức Ngài một nhiệm vụ yếu trọng là khai hoát Phạm Môn Trí Huệ tức cửa Phật HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN để minh chứng sự xuất hiện Bí Pháp của Đạo Cao Đài. Vì một khi Thánh Thể Đức Chí Tôn trở về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống mà không có lưu hậu chứng cứ, không có hậu nhân kế chí bảo thủ Pháp Chánh Truyền để cho cơ Đạo đến hồi giải thể thì câu nghi vấn Hiệp Thiên Đài là Tòa ngự của Đức Chí Tôn, “dù cho còn một mặt Tín Đồ Hội Thánh vẫn giữ bản quyền Hội Thánh” phải giải đáp sao đây khi không còn Bí Pháp nữa?
 
Do đó mà Thiêng Liêng cho xuất hiện một vị Phật CHUẨN ĐỀ, được Đức Hiến Pháp nhìn nhận và Đức Ngài cho biết đã xuất vía về hội kiến cùng Đức Hộ Pháp, được Đức Hộ Pháp đồng ý, ban cho vị Phật CHUẨN ĐỀ bút hiệu PHI PHÀM.
 
Nói rõ hơn, CHUẨN ĐỀ Bồ Tát Chưởng Quản Cung Hạo Nhiên Pháp Thiên đã được thọ truyền Bí Pháp do chính Đức Hiến Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, quyền năng Hiến Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài cũng như Hộ Pháp vậy, làm cho lời khẳng định: “Chủ quyền Chơn Đạo một mình ta” của Đức Chí Tôn phải thành sự thật.
 
Nên về mặt Thể Pháp mà hiểu thì:
 

PHẬT: Tức Đức Chí Tôn vô vi đến giáo hóa bằng cơ bút đặng mở Đạo, Ngài vi chủ Bát Quái Đài.

 

PHÁP:Thông công hữu hình với vô vi làm chủ tinh thần Đạo, gọi là Ngự Mã Thiên Quân tức là Hộ Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.

 

TĂNG: Thập Nhị Thời Quân chia làm ba chi: PHÁP, ĐẠO, THẾ tức là Thánh Thể của Đức Chí Tôn đó vậy.

 
Còn Bí Pháp Chơn Truyền tức là quyền năng vô đối của Đức Chí Tôn đã cầm nơi tay Ngài đến cùng con cái mỗi người một quyền hành, đủ phương pháp, đủ quyền năng tự giải thoát lấy mình. Nên về mặt Bí Pháp thì:
 

PHẬT: Là HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN, tương liên hiệp một cùng Đức Chí Tôn.

 

PHÁP: Là HƯ VÔ CAO THIÊN thuộc về Pháp Giới, cầm cả luật Thiên Điều.

 

TĂNG: Là HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN thuộc Tạo Hóa, thuộc Tăng.

 
Phật vị có 3 đẳng cấp ấy đặng nắm cả quyền năng trong Càn Khôn Thế Giới.
 
Bây giờ, ta muốn về gặp Đức Chí Tôn, ta không có con đường nào khác hơn là con đường dục tấn tinh thần trên Thiêng Liêng Hằng Sống. Vậy ta phải đi. Ta dục tấn tinh thần qua 5 Cung Bí Pháp như sau:
 

1.- HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN:

 
Nơi Vạn Linh qui hiệp về đây tùng lịnh CHUẨN ĐỀ Bồ Tát, PHỔ HIỀN Bồ Tát.
 
CHUẨN ĐỀ Bồ Tát là Đấng Chưởng Quản Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa, có đủ quyền năng thi Nhơn Đạo và Thiên Đạo đặng ban cho ta được Chơn Linh điểm trí mà hiệp Tam Bửu mới mong dục tấn trọn con đường Thiêng Liêng Hằng Sống. Câu kinh đệ Thất Cửu có tả như vầy:
 
“Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa,
Kiến Chuẩn Đề thạch xá giải thi”.
 
 
Có nghĩa là những Nhơn Hồn được thi pháp mà Phật CHUẨN ĐỀ chấm đậu thì đến ngày Long Hoa Đại Hội sẽ được nêu lên bảng vàng hay bảng đá.
 
PHỔ HIỀN Bồ Tát chuyển cơ giáo hóa cho Cung Phật, hiệp các đẳng Chơn Linh chèo Bát Nhã Thuyền tận độ Vạn Linh hiệp nhứt linh câu kinh đã để:
 
“Động Phổ Hiền, Thần, Tiên, hội hiệp,
Dở Kim Cô đưa tiếp Linh Quang”
 
Nhiệm vụ Hạo Nhiên Pháp Thiên phải:
 
-Trừ ma chướng quỉ tai.
-Cứu khổ ách Nghiệt chướng.
-Độ tận Vạn Linh đắc qui Phật vị.
 
Nếu được vào cung Phật, ta mới hiểu những lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp rất chơn thật mà thâm thúy, nồng nàn, có giá trị tuyệt đối là: “ Nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN, một vị Phật cao trọng toàn tri, toàn năng gần như Đức Chí Tôn nữa mà xuống thế gian nầy đặng học bài học khổ, dám làm kẻ ngu dốt lắm. Đấng toàn tri, toàn năng ấy là Đấng đầu tiên hiệp lại với Đức CHÍ TÔN”.
 
Hoặc chú ý thêm, ta sẽ biết được: “HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN tương liên hiệp một cùng Đức CHÍ TÔN, nắm quyền trị thế, chính quyền năng Đức CHÍ TÔN định”.
 
Vì vậy mà Đức CHUẨN ĐỀ Bồ Tát phải chuyển Bí Pháp cho ra thiệt tướng. Nên ta mới thấy được: “Đấng làm chủ Cung ấy ra lịnh cho vị cầm đầu chỉ hướng, giáo hóa, dìu dẫn anh chị em nam nữ cho rõ thông chơn lý đặng giải thoát đạt Đạo được đưa lên Cung PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN kiến diện Đức TỪ HÀN.”

 

2.- PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN: 

Cung nắm quyền hành Tạo Đoan loài người, đồng thể, đồng tánh với PHẬT, thuộc PHẬT. Đã lảnh phận sự nơi Đức CHÍ TÔN, cầm Nguơn khí của con người, giữ sanh mạng vạn vật kêu là Vạn Linh. Nên khi ta được vào đây phải tùng TỪ HÀN Bồ Tát. Chính là QUAN THẾ ÂM Bồ Tát vâng mạng lịnh Đức DI LẠC Vương Phật chèo thuyền Bát Nhã qua lại sông Ngân Hà rước người từ khổ hải về Bát Quái Đài.

Cung PHI TƯỞNG có nhiệm vụ:

-Năng trừ tà ma, năng trừ nghiệt chướng.
-Năng cứu tật bịnh, năng cứu tam tai.
-Độ tận chúng sanh thoát ư tứ khổ.


Và nơi đây thi pháp hộ trì vạn linh sanh chúng. Đức HIẾN PHÁP lúc sanh tiền có dạy:

Người ta tin QUAN ÂM chớ. Nhưng tin QUAN ÂM vô vi, chớ không tin QUAN ÂM hửu hình. Chờ chừng nào Qua chết đi rồi biết

Ngày giờ nầy, Đức Ngài đã trở về cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống , tiếp tục Phật sự do chính Hộ Pháp đã giao. Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài vô vi chuyển pháp cho kịp lời hứa Đức Ngài: “Chừng nào rước Liên Đài của Đức HỘ PHÁP chính Qua đi rước mới là thiệt đa nghe”.

3.- TẠO HÓA HUYỀN THIÊN.

PHẬT MẪU cầm Pháp chuyển cơ sanh hóa không cùng tận, cầm sanh khí biến xuất để tạo sanh vạn vật….Đấng Tạo Hóa năng du ta bà thế giới, dưỡng dục quần sanh, dưỡng dục quần linh qui nguyên Phật vị.

Lúc ban sơ, PHẬT MẪU đến ngự tại Hiệp Thiên Đài làm mẹ chữ Khí, tức là khí sanh vạn vật, lấy nguơn pháp trong chữ Khí mà biến thành Càn Khôn Vũ Trụ. Chữ Khí tương quan trong Hiệp Thiên Đài, nên PHẬT MẪU trước đến tạo Hiệp Thiên Đài, thuộc Pháp, tức là Tòa Ngự của Người, rồi sau mới lập Cửu Trùng Đài. Người đến gọi mình là bạn của Chúng Sanh, tự xưng Thiếp, đem Bí Mật từ thử chưa ai nghe đối với CHÍ TÔN thế nào, nói rõ không kiên phép Ngọc Hư, vì để tạo gia nghiệp cho con cái của Người thì Người có quyền nói không ai cản nổi.

Vạn Linh dục tấn đến đây đã thấy Pháp hóa tướng Tông, nhưng có điều chưa dám nói. Bởi Đức HỘ PHÁP đã dạy: “Không có mỵ thuật, mỵ pháp đâu, nếu có thì Đức Tam Tạng khi đi thỉnh kinh không bỏ xác trôi giữa dòng sông”.

Nếu ta tin Đức HỘ PHÁP mang xác phàm sống trở lại về lên ngôi GIÁO TÔNG, tức là Đức PHẠM GIÁO TÔNG, thì chỉ theo duy linh mà thôi. Như vậy, sẽ đứng bên ngoài của luật thay đổi Tạo Đoan và trái với Pháp Chánh Truyền ấn định.

Đức CHÍ TÔN đã phân quyền rõ rệt, nếu hiệp nhứt tức là cả hai quyền chính trị và luật pháp trong tay thì Vạn Linh dễ bị áp chế độc tài.

Hơn nữa HỘ PHÁP hửu hình mà quyền năng Thiêng Liêng, trách nhiệm của Đức Ngài rất quan trọng là mở cửa Phạm Môn Trí Huệ dẫn dắt con cái CHÍ TÔN vào Bát Quái Đài chớ đâu vì cảnh hửu vi sắc tướng để các nguyên căn lầm đường lạc ngã. Trong bài thài Đức Ngài than:

“ Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời!?”


4.- HƯ VÔ CAO THIÊN:

Khi ta còn ở Cung Phi Tưởng thì ta được phổ hóa đạt Pháp, nếu dục tấn đến đây sẽ được giáo hóa Chơn Truyền phổ tế chúng sanh đạt Phật. Ta đến Cung nầy phải nhờ PHẬT MẪU cho “ Phục nguyên nhơn hườn tồn Phật tánh”.

Rồi ta nhớ lại con đường Thiêng Liêng đi qua, ta biết nơi HẠO NHIÊN có Cung Chưởng Pháp, một Cung toàn hảo do thiên thơ tiền định, gồm cả ba vị Phật: CHUẨN ĐỀ, DÀ LAM, PHỔ HIỀN. Nếu ta hiểu nền chánh trị Càn Khôn Vũ Trụ quá vĩ đại ngoài tưởng tượng của chúng ta, thì Cung nắm chánh trị Càn Khôn cũng khó đo lường, vì nơi đây không thiếu một pháp giới nào bởi Hư Vô phải lãnh một nhiệm vụ Thể Thiên Hành Hóa, nếu muốn thì họ có tất cả.

Như ta đã biết dù có 3 vị Phật mà tại HẠO NHIÊN chỉ tùng lịnh CHUẨN ĐỀ và PHỔ HIỀN, thử hỏi tại sao không tùng lịnh DÀ LAM? Phật DÀ LAM là Chơn Linh của Đức QUAN THÁNH đạt vị, đã đạt tới CÁI THIÊN CỔ PHẬT.

CHUẨN ĐỀ Bồ Tát là Giáo Chủ Tây Phương Cực Lạc.

PHỔ HIỀN Bồ Tát là một trong 12 đại Đệ Tử NGỌC HƯ CUNG, cả 2 vị đều có mặt ở Phong Thần thời hưng Châu phạt Trụ. Còn Phật DÀ LAM thuộc vô vi nên đến HƯ VÔ CAO THIÊN ta mới biết, chính DÀ LAM dẫn nẽo Tây Qui, nên Tiểu Tường có câu: “Ngôi Liên Đài quả phúc DÀ LAM”.

DÀ LAM hướng dẫn Vạn Linh về gốc, vì đó mà nơi đây xuất hiện TIẾP DẪN PHẬT ( TIẾP DẪN và CHUẨN ĐỀ là một nguyên căn, cùng là Giáo Chủ Tây Phương Cực Lạc, nên cả 2 vị Phật thay đổi trong 2 Cung thường du đó vậy).

TIẾP DẪN PHẬT đem Chơn Pháp cho Vạn Linh đạt mà nhìn nhận Đức CHÍ TÔN tại thế, tức là Đức DI LẠC Vương Phật. Tại HƯ VÔ CAO THIÊN vâng mạng lịnh nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN nắm chánh trị Càn Khôn đã vừa lo cho Vạn Linh đạt chơn pháp, lại vừa lo chuyển nhập Cực Lạc Quốc.

5.- HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN:

Khi Đức HIẾN PHÁP giao cho Phật CHUẨN ĐỀ mở HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN để truyền bá đức tin thờ Đức HỘ PHÁP có lần Đức Ngài đã dạy: “ Đường nầy là đường của CHÍ TÔN nếu không đi thì đi đường nào?

Mấy em đã phăng được cái gốc rồi thì đừng trèo ra nhánh nữa, lở tuột nó té mấy em Qua làm sao đở kịp!


Kỳ nầy Đức DI ĐÀ đã vào Lôi Âm Tự nhường Kim Tự Tháp cho Đức DI LẠC. Nên thờ HỘ PHÁP thì Đức DI LẠC mới lên ngôi GIÁO TÔNG, bởi GIÁO TÔNG quyền năng hửu hình, vì vậy mà Kinh Đại Tường có đoạn:

“ Hổn Ngươn Thiên dưới quyền Giáo Chủ,
DI LẠC Vương thâu thủ phổ duyên.
Tái sanh sửa đổi chơn truyền”


Đức DI LẠC đến chỉnh sửa những sai sót làm cho Chánh Giáo biến ra phàm giáo mà thất pháp. Kể từ khi được giải thể Vạn Linh dục tấn tới đây mới rõ câu kinh “Giáng Linh HỘ PHÁP DI ĐÀ”.

Nhờ Tử Khí HỘ PHÁP huyền diệu Thiêng Liêng thức tỉnh Vạn Linh sớm hiệp Tông Đường để được Đức DI LẠC cho an định cương vị. Chuyển cho Vạn Linh hiệp Chí Linh tại Cung Chánh Pháp của Đạo Cao Đài để tại mặt thế nầy cho nhơn loại đạt đến. Nơi đây cốt yếu chung hợp các đẳng Chơn Hồn cao siêu trí thức từ Tiên Thiên tới Phật Vị. Chính nơi đây quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội của toàn thể Vạn Linh trong Càn Khôn Vũ Trụ.

Khi Vạn Linh đã vào Lôi Âm Tự kiến diện Đức DI ĐÀ, lúc trở ra Đức DI LẠC mới nhìn nhận và chịu danh là ĐẠI TỪ PHỤ, cũng bởi Vạn Linh dục tấn đến đây thì đã đạt Chơn Pháp thấy rõ câu:

“ Nam Bắc cùng rồi ra ngoại quốc,
Chủ quyền Chơn Đạo một mình ta
”.

Đức CHÍ TÔN đã không hề dối gạt một ai.
Và tại hửu hình, Đức DI LẠC chuyển Chơn Pháp thành Chơn Đạo, chiếu theo

“ Bộ công DI LẠC Tam Kỳ độ sanh

Mà định phẫm vị cùng ban thưởng cho toàn thể Vạn Linh đặng kết thúc Long Hoa Đại Hội tại Bạch Ngọc Kinh ( Tòa Thánh Tây Ninh).

 

BÁT QUÁI ĐÀI

 
 
Nhìn lên Đền Thánh, ta hiểu được 2 Đài tượng trưng là: Cửu Trùng và Hiệp Thiên.
 
Hiệp Thiên Đài do HỘ PHÁP Chưởng Quản vi chủ tinh thần Đạo. Còn Cửu Trùng Đài do GIÁO TÔNG Chưởng Quản vi chủ thể xác Đạo.
 
HỘ PHÁP thì ta thấy, GIÁO TÔNG ta chưa thấy.Ta chỉ thấy có Quyền GIÁO TÔNG, vì Đức LÝ GIÁO TÔNG quyền hành lớn lao ở NGỌC HƯ CUNG vô vi mà ngôi GIÁO TÔNG hửu hình chưa đến ngự.
 
Chừng nào ngôi GIÁO TÔNG mới có người ngự?
 
Khi Đền thờ CHÍ TÔN phải hiện tượng đủ 3 Đài tại thế thì chừng đó GIÁO TÔNG mới ngự.
 
Sở dĩ HỘ PHÁP đã ngự Hiệp Thiên Đài bởi vì Hộ Pháp là quyền năng của Đức CHÍ TÔN thay Ngài mà đến làm phận sự Ông TRỜI tại thế.
 
Còn GIÁO TÔNG phải chờ có Bát Quái Đài hửu hình mới được ngự trên ngai GIÁO TÔNG Cửu Trùng Đài của Người, bởi xác không vi chủ tinh thần.
 
Ta biết Đức LÝ GIÁO TÔNG vô vi đã mở tịch Đạo Thanh Hương. Còn đối với GIÁO TÔNG hửu hình sẽ đổi tịch lại sang: Đạo Tâm.
 
Nhơn sanh khi mới mở Đạo tuy tín ngưỡng mạnh mẽ, nhưng trọn đức tin ở phần vô vi nên Các Đấng chỉ ngự ngôi vô vi chuyển pháp.
 
Ngày nay, nhơn sanh tấn hóa khả quan định được hành tàng: “Cõi Thiên cảnh tục cũng dường chung nhau” nên đã hiểu bóng tất phải biết hình. Cũng do tâm đức đó, mà các Đấng phải đến ngự ngôi hửu hình và đổi thành tịch Đạo Tâm đúng như Đức CHÍ TÔN ấn định.
 
Nói như vậy, ta cũng chưa tìm thấy Bát Quái Đài. Lại càng sợ sệt khi tưởng đến một Đài có hằng hà sa số Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đang chầu Đức CHÍ TÔN.
 
Sự tìm hiểu Bát Quái Đài nầy, phải chăng là sự nông nổi hoặc viễn vông? Chúng ta chỉ có điều muốn cho rõ ràng chân lý.
 
Trong khi Đức HỘ PHÁP cùng Thánh Thể CHÍ TÔN lo tạo cho có Ông TRỜI tại thế đặng cứu sanh nhơn loại, Đức Ngài đã hứa mở cửa Bát Quái Đài cho ta làm bạn cùng các Đấng Thiêng Liêng, thúc dục tinh thần, không lẽ ngồi chờ đợi cho người ta làm sẵn, thì giá trị kiếp sanh của ta phải cân nhắc thế nào? Nếu thuộc hạng Thiên Mạng, đố ai ngăn cản con đường Bát Quái Đài.
 
Tại sao phải tìm? Nếu không thấy Bát Quái Đài khó được làm bạn với các Đấng Thiêng Liêng, tức không gặp Đức CHÍ TÔN, không thấy GIÁO TÔNG của triều Đức DI LẠC Vương Phật.
 
Ta tìm từ trong lẽ Nhơn Sinh Quan để đi lần đến Vũ Trụ Quan, từ Tiểu Thiên Địa đến Đại Thiên Địa, tức ta tìm từ cá thể đến đại thể đó vậy.
 
Ta thừa hiểu Đức CHÍ TÔN vi chủ Bát Quái Đài vô vi đã vì ái truất thương sanh nên mở cơ tận độ. Chúng ta đã hiểu phần Thể Pháp nhưng phần Bí Pháp thì chưa, hỏi tại sao vậy?
 
Tại vì chúng ta chỉ thích sự chơn thật, trân trọng sự chơn thật, trân trọng một cách thái quá mà lại quên đi cái lý chơn thật tức là chơn lý của nó.
 
Mỗi nhơn hồn tại mặt thế gian nầy đều có Tam Bửu: TINH, KHÍ, THẦN. Chúng ta đã dâng lên cả Tam Bửu cho Đức CHÍ TÔN và PHẬT MẪU. Nên sanh hồn của ta chỉ là một con kỵ vật cho hai Đấng Tạo Hóa sử dụng. Nhưng thực tế, có thật như vậy hay chăng?
 
Hãy dục tấn tinh thần theo cơ chuyển pháp của Đức CHÍ TÔN mới thấy rõ điều nầy.
 
Khi mở Đạo, Đức CHÍ TÔN chỉ đến với huyền diệu cơ bút. Ngài ngự Bát Quái Đài vô vi là linh hồn của Đạo. Quyền năng hửu hình có HỘ PHÁP Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài nắm vững tinh thần mà điều khiển thể xác của Đạo tức Cửu Trùng Đài.
 
Luật thay đổi hửu hình hửu hoại của cơ Tạo Hóa từ không biến sắc, sắc trở về không, dù cho Đức CHÍ TÔN xuống thế cũng không ra ngoài khuôn viên của cơ tấn hóa. Nên lúc sống do sự khôn ngoan của tinh thần ta, có quyền chọn trong hai con đường Đạo hay Đời. Đời thì thể xác khống chế, Đạo thì Chơn Linh vi chủ. Đức CHÍ TÔN cũng vậy. Ngài là Đạo, Đạo là Ngài. Nên tinh thần Hiệp Thiên Đài hướng về Chơn Linh Bát Quái Đài tuyệt đối, một khi thể xác của CHÍ TÔN giải thể, Ngài cũng phải:
 
“ Kêu Chơn Thần vịn níu Chơn Linh.
Năng lai năng khứ khinh khinh, 
Mau như điển chiếu nhẹ thành bóng mây.
Cửa Tây Phương khá bay đến chốn
 
Chơn Thần Hiệp Thiên Đài nhập vào Bát Quái Đài đến cửa Tây Phương Cực Lạc. Từ nhứt bổn tán vạn thù, chung qui, vạn thù qui nhứt bổn.
 
Ban sơ PHẬT MẪU đến ngự tại Hiệp Thiên Đài, Đức CHÍ TÔN đã giao cho Tạo Hóa Huyền Thiên lãnh nhiệm vụ tạo hóa và mở cơ giáo hóa. Còn Đức QUAN ÂM Bồ Tát giữ mật Pháp và bảo lãnh nữ phái, PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN lãnh nhiệm vụ tạo đoan gìn giữ ngươn khí Vạn Linh nắm cơ phổ độ. 
 
Hai Đấng Chưởng Quản của hai Cung Tạo Hóa và Phi Tưởng đã về cõi Thiêng Liêng, để 3 hột tối tiểu của tinh thần Hiệp Thiên Đài một dương, hai âm, vận chuyển năng lực từ trường tạo bởi Bát Quái Đài, là nơi tương liên hiệp một cùng Đức CHÍ TÔN, chính là HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN, Đấng đã chuyển từ Thể Pháp sang Bí Pháp tác thành Chơn Pháp. Nếu sánh với bất cứ tôn giáo nào từ tạo Thiên lập Địa đến nay, cũng chưa bao giờ có.
 
Ngày sắp tàn cuối hạ ngươn tam chuyển, ta đâu còn thời gian nghiền ngẫm tìm tàng thiên kinh vạn quyển, mang tiếng mọt sách, một cách oan uổng, không phải tịnh luyện, xuất hồn, xuất thần, chỉ HỘ PHÁP mới gặp Đức CHÍ TÔN, Phật chuyển Pháp, Pháp qui Phật. Còn ngoài ra ta không cần giã tướng, giã cảnh trong cái không: không có thật, không tam lập.
 
Ai cũng có Tam Bửu là ba mối nợ thêm nợ đồng sanh. Trả nợ Tam Bửu, nợ đồng sanh, hành tam thiện mới là chơn lý.
 
Trước cơn nước lửa, sự đau khổ cả xác lẫn hồn của bạn đồng sanh không chỉ riêng một nhóm, một nước mà toàn mặt địa cầu! Mỗi cá nhân tự biết:
 
“ Sứ mạng làm xong mới nghĩ an,
Dầu phần lớn nhỏ cũng Trời ban. 
Lớn thì lao trí vì vai gánh, 
Nhỏ lại sức mòn bởi sở năng”.
 
Ta đạt chơn lý ấy, biết rõ Đấng tạo nên chân lý mới mong đi cùng chân lý.
 
Cũng nên phân tích hai pháp lý của chân lý là Thể Pháp và Bí Pháp ở tinh thần Hiệp Thiên Đài. Nên Hiệp Thiên Đài: bán thể, bán lý, bán hửu hình, bán vô vi.
 
Nếu xu hướng Cửu Trùng Đài thì Hiệp Thiên Đài bán hửu hình, Thể Pháp Thế Đạo: Đức CHÍ TÔN giao cho Chi Thế , THƯỢNG SANH Chưởng Quản.
 
Nếu xu hướng Bát Quái Đài thì Hiệp Thiên Đài bán vô vi, Bí Pháp Thiên Đạo: Đức CHÍ TÔN giao cho Chi Đạo, THƯỢNG PHẪM Chưởng Quản.
 
Lấy những nét đặc sắc chuyển thế Nho Tông và chấn hưng Phật Giáo, một Tôn giáo vô tiền khoáng hậu dẫn dắt nhơn sanh đi tận đường phàm dĩ chí Phật vị.
 
Quan sát mặt Thể Pháp thì ta hiểu, còn mặt Bí Pháp chỉ có mường tượng. Phải biết mới được. Những khi ta đọc hay tụng Di Lạc Chơn Kinh, Phật Mẫu Chơn Kinh là CHÍ TÔN đem chánh truyền mà chơn truyền, đem chơn thật để trong cửa Đạo, ta mới theo chân Ngài. Nhưng khi có ai hỏi Bí Pháp thì ta lúng túng mơ hồ, không thể trả lời hoặc miễn cưỡng ấp úng. Vô tình ta đã làm cho CHÍ TÔN câm sao? Ngài còn chỉ rõ cái tạm, cái giã, ta ngược lại ôm ấp cho đó là cái còn, cái thiệt, mãi để Bí Pháp duy chủ quyền Đạo chỉ là giả tướng không có chơn thật, mặc Chơn Linh ngã phân hiềm tị, rủi Long Hoa Đại Hội trể kỳ thì phước tội về đâu?
 
Một tín đồ thờ ơ, một nỗi khổ!
 
Cả nhơn sanh lảnh đạm, khối khổ riêng CHÍ TÔN âm thầm trọn lảnh!
 
Điều ấy tưởng tượng được, có lẽ ai cũng chạnh lòng để thương, để nhớ! Mà tự xét phải hy sinh, can đảm, sáng suốt, vững tâm, bền chí, nhẫn nại. Vì không phải vô cớ mà ta dám nhìn nhận CHÍ TÔN tại mặt thế gian nầy. Nên giải thích có bằng chứng hửu vi để tránh bị thiên hạ cho là mê hoặc trước buổi dương quang không xuyên thấu trược khí âm quang, thì đêm ngày chỉ phỏng đón nếu thiếu bằng chứng chỉ định thời gian.
 
Đạo cũng vậy, Thể Pháp hoặc Bí Pháp cùng gốc Hiệp Thiên Đài nắm Đạo quyền, tức phải phù hợp với Pháp Chánh Truyền bất di, bất dịch như trang 39 có đoạn chú giải:
 
“ Ngày nay chẳng biết các Đấng Thiêng Liêng là Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Bát Quái Đài đã thọ lịnh của Thầy mà hành pháp vì thuộc về quyền hành của các Đấng ấy ngày nay mới tính sao? Trong các Bí Pháp có cơ mầu nhiệm đắc Đạo bây giờ các Đấng ấy có cho hay là không. Thảm…( Cười). Nếu Lão có phương chỉnh đốn nền Đạo lại thì đặng, bằng chẳng vậy thì không có một người đạt pháp, Cửu Trùng Đài cũng đã yểm quyền Bát Quái Đài mà chớ! Thật vậy đó chút!”
 
Diễn văn Đức HỘ PHÁP trang111 Pháp Chánh Truyền có đoạn: “ CHÍ TÔN đã đến hế, hạ mình đặng làm Thầy dạy dổ chúng ta, hằng trông mong giờ nào chúng ta biết hòa hiệp nơi lòng bác ái từ tâm của Người là hiệp làm một cùng Người, mới có đủ quyền hành độ tận chúng sanh qui hồi cựu vị”.
 
Để làm sao, ngày gần đây lương tâm không ray rức dày dò do ân hận trong những ngày tàn của cơ đại ân xá: “Rưới chan hạnh phúc bởi lòng tin”.
 
Vì biết Chúa, ai dám bán Chúa? Thấy Phật, đâu làm đổ máu Phật, đâu có tìm giết Phật?!
 
Gương xưa hằng tái diễn, nên Đức CHÍ TÔN tuy sống làm Thầy phải dè dặt tâm tánh của con cái Ngài. Lẽ đó mà sử dụng Bí Pháp, một điều quá đau buồn cho Ngài muốn đem sự chơn thật chế ngự toàn mặt địa cầu sớm tạo thánh đức lại không được.
 
Thay thế phận sự Thiêng Liêng, bởi Ngài là ĐẠI TỪ PHỤ, phải có Ngài mới giải quyết sự công bằng bác ái đầy đủ ý nghĩa.
 
Ngài cần ở ta, ta cần nơi Ngài. Điều nơi Ngài dễ dàng chuyển trong nháy mắt. Còn điều ở ta dám hứa chắc hay không? Nếu may duyên được làm bạn với các Đấng Thiêng Liêng tại Bát Quái Đài chỉ dạy thì ta chẳng dám nói là: Chưa hứa chắc.
 
Chẳng phải lớn gan đại ngôn như vậy, ta mong sự chơn thật nhan nhãn trước mắt thiên hạ cùng giải rõ mà thôi.
 
Không lẽ Tam Thể CHÍ TÔN trên nóc Bát Quái Đài dựng lên do tài liệu Đạo sử để làm chứng nhân điển tích, chịu mãi cảnh nhuộm nắng phơi sương!
 
Ngay cả tượng hình Đức PHẬT MẪU cởi Chim Loan đã mấy mươi năm nhơn sanh chiêm bái mà Đức HỘ PHÁP còn nói: “ Ci-va là Pháp, Pháp là PHẬT MẪU, PHẬT MẪU là gì mà không biết, có con mắt mà không biết PHẬT MẪU là gì?”
 
Đức Ngài nói thêm:
 
“ Dù Đức DI LẠC đến bực cao trọng bao nhiêu cũng là con…quyền năng bực nào nghĩa là Mẹ cũng vẫn là quyền Mẹ. Trái ngược lại, cầm quyền vi chủ mà Bần Đạo làm con phải hiếu hậu vi tiên, quyền năng ấy cũng để là Mẹ”.
 
Đức Ngài chỉ dạy không thừa không thiếu, không điều nào vô giá trị trong cửa Đạo Cao Đài. Nói thì phải có, không có thì không Chơn Pháp.
 
Như lúc ban sơ thì PHẬT MẪU và QUAN ÂM là Chơn Thần Hiệp Thiên Đài thể pháp. Nay vâng mạng lịnh Bát Quái Đài, Tạo Hóa Huyền Thiên và Phi Tưởng Diệu Thiên tiếp tục chuyển Bí Pháp cho Đức CHÍ TÔN nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN.
 
Còn Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài do TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN Chưởng Quản là hình trạng NGỌC HƯ CUNG phải qui về HƯ VÔ CAO THIÊN vâng mạng lịnh nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN cầm pháp giới, nắm luật Thiên Điều.
 
Nếu trọn vẹn Đạo Tâm, sẽ lên cây cầu bắt ngang bờ rất huyền diệu, ai đứng đó được mới biết mình nhập vào Bát Quái Đài.
 
Trở ngại là lúc để bước lên cầu, cầu ấy chuyển đi làm cho chúng ta phải yếu, muốn thối bộ. Nhưng người nào bước tới cũng đặng.
 
Và muốn đến sẽ bị trở ngại khó khăn hơn, là ráng vượt qua ao ô trì.
 
Với Bí Pháp tạo hình nó có 8 gốc giống như cây cột, 7 cửa là Thất Đầu Xà, duy chỉ chừa có cửa Phật. Chúng ta ở ngoài thấy mênh mông hào quang chiếu diệu, khi chúng ta vô Đài rồi thì Đài ấy biến mất chỉ còn Càn Khôn Vũ Trụ, nhưng Đài ấy vẫn xây, xây mãi phải chăng Bát Quái Đài là Tòa Tam Giáo NGỌC HƯ CUNG? Ta thành Tiên, thành Phật cũng tại đó.
 
Còn như theo chơn pháp mà nói thì át Quái Đài nó thù lù ở dưới đất trồi lên trước mặt chúng ta. Dù cho biến cách nào, ít ra cũng còn chứng tích như ao Bát Đức ở Tây Phương, Hồ Sen Bát Quái tượng trưng cảnh Phật, cảnh Thiêng Liêng vinh diệu để ta tự tu thân giải oan nghiệt tội chướng, đoạt chân huệ tinh thần.
 
Ta tìm cũng vì lẽ ấy. Vì có Bát Quái Đài tại thế thì Đền Thờ CHÍ TÔN chứng minh được sự tương liên hiệp một cả 3 Đài hửu hình do Tam hồn của Đức CHÍ TÔN Chưởng Quản, tức là Tam Thể CHÍ TÔN đó vậy.
 
Ngày giờ đó, Đền Thánh sẽ do Hổn Ngươn Khí hằng sống biến hình BẠCH NGỌC KINH mà Đấng vi chủ chế ngự trên khối nguyên tử không ai khác hơn chính là Đức GIÁO TÔNG DI LẠC Vương Phật.
 
Ta thử nghĩ trên ba con đường đang đi:
 
- Con đường thứ nhứt dẫn đến Cửu Trùng Đài.
- Con đường thứ hai dẫn đến Hiệp Thiên Đài.
- Con đường thứ ba đưa vào Bát Quái Đài.
 
Cả ba con đường cùng đưa Vạn Linh về với Đức CHÍ TÔN. Nhưng có đường độ sanh và có đường độ tử.
 
Nếu ta đi trên con đường độ sanh mới mong hiệp Tam Bửu vì có Tam Thế CHÍ TÔN do Đức DI LẠC vi chủ mà vi chứng một khi Bí Pháp ra thiệt tướng.
 
Thiêng Liêng chỉ chuyển, hửu hình lại khác.
 
Muốn Bí Pháp ra thiệt tướng sớm hay muộn cũng còn tùy thuộc nơi sở hành. Nói không tới. Làm mới tới.
 
Trả xong nợ đặng giải thoát kiếp nầy hoặc chờ kiếp sau, kiếp khác đến thất ức niên, ta tự định kiếp số của ta. Hai Đấng Tạo Hóa đã đem Bí Pháp chơn truyền trao tận tay ta y mỗi người, vì gia tài sự nghiệp chung, ai cũng được hưởng phần hương hỏa.
 

PHI TƯỞNG PHÁP & HƯ VÔ PHÁP

 
PHÁP, thuộc quyền năng của Đức PHẬT MẪU. Đạt Pháp hay đạt ý là hiểu rõ và hành đúng theo Chơn Pháp trong lời dạy của Đấng Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài hay HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN.
 
Bởi vì nền Chơn Đạo của CHÍ TÔN đã phân ra:
- Tạo nên hình do HỘ PHÁP Thể Pháp.
- Thành tướng do CHƯỞNG PHÁP Bí Pháp.
Cả hai đều phải chính PHẬT MẪU định đoạt.
 
Như Hiệp Thiên Đài có THƯỢNG PHẪM, THƯỢNG SANH, thì THƯỢNG SANH Thể Pháp lo giúp cho chúng sanh tấn hóa theo cơ phổ độ, khác nào QUAN ÂM Bồ Tát nương Bát Nhã thuyền độ người từ khổ hải.
 
Còn THƯỢNG PHẨM Bí Pháp đưa Chơn Linh vào Bát Quái Đài, khác nào TIẾP DẪN PHẬT độ phụ về Tây Phương Cực Lạc.
 
Cơ giáo hóa dục tấn nhơn sanh trên Cửu Thiên Khai Hóa thì PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN cầm pháp độ, gìn giữ ngươn khí của Vạn Linh. Trái lại, HƯ VÔ CAO THIÊN nắm chánh trị, cầm luật thiên điều giúp cho Vạn Linh đoạt Đạo hiệp một cùng Đức CHÍ TÔN.
 
Khi phân tách hai pháp giới, có điều nghi vấn tại sao QUAN ÂM Bồ Tát Chưởng Quản PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN lại vâng mạng lịnh nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN?
 
Đây là chánh trị Càn Khôn Thế Giới, ta muốn hiểu nhưng không hiểu đặng. Tinh thần dục tấn của ta chưa đến mức đạt huệ nhãn. Chớ còn Đức CHÍ TÔN chỉ có sử dụng con bài tráo lật ngửa cũng khó ai đánh trúng.
 
Do tại cương vị của ta nơi địa cầu 68, nên không thể thấy được. Nếu được may duyên đứng ở Vân Động DIÊU TRÌ CUNG nhìn xuống thế gian sẽ thấy QUAN ÂM Bồ Tát đang độ sanh toàn thiên hạ.
 
Đức HỘ PHÁP cho thấy điều nầy trong Thiêng Liêng Hằng Sống: “ Bần Đạo nói: họ đang nói chuyện mà trên đầu họ muôn ánh hào quang xẹt tứ tung ở trên không trung, họ đương nói chuyện ở đây mà họ điều đình tới địa giới khác, cả Càn Khôn Vũ Trụ huyền bí vô biên không tỏa đặng. Ấy là một phẩm vị Thể Thiên Hành Hóa cầm quyền tạo đoan, không có điều gì họ không làm đặng”.
 
Còn Đức HIẾN PHÁP, Ngài nói như vầy: “ Họ tin QUAN ÂM chớ sao không tin. Nhưng họ chỉ tin QUAN ÂM vô vi, chớ không tin QUAN ÂM hửu hình. Đợi chừng nào Qua chết đi rồi mới biết”.
 
Ngài đã giữ mật pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài giúp tay cho HỘ PHÁP khai mở Bí Pháp về mặt Thế Đạo.
 
Quyền năng ấy là âm năng của Đức CHÍ TÔN.
 
Nay, Ngài Chưởng Quản PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN cầm cơ phổ độ, ngoài ra có các Đấng Thiêng Liêng giúp sức cho trọn cơ tận độ nầy. Ta được may duyên hửu phước ở trong Tông Đường của Ngài thì kiếp sanh nầy không uổng phí. HIẾN PHÁP vâng lịnh HỘ PHÁP như QUAN ÂM Bồ Tát vâng lịnh Đức DI LẠC VƯƠNG PHẬT. Vô vi và hửu hình chỉ là hình bóng. Thể Pháp dể thấy còn Bí Pháp khó tìm, như tu hành thì dể, đạt thì khó, tin rất khó, theo rất dể.
 
Thử nhận xét: Nếu HIẾN PHÁP không tùng lịnh HỘ PHÁP thì làm sao biết được Bí Pháp lấy ếm Long Tuyền Kiếm? Cũng như, nếu QUAN ÂM không tùng lịnh Đức DI LẠC thì làm sao tới HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN, Pháp Chánh đâu mà rước người từ khổ hải về được Bát Quái Đài? Vấn đề tất yếu ở đây là nơi hiệp một cùng Đức CHÍ TÔN nắm quyền trị thế cho đến Cung Định Cung Pháp quyết định chương trình Long Hoa Đại Hội phải tương quan thế nào để Vạn Linh hiệp nhứt linh, GIÁO TÔNG ra đời? Một bên là Cung Phật, một bên là Cung Tăng. Tương liên thế nào khi đã biết một nơi nắm quyền trị thế chính quyền năng Đức CHÍ TÔN định và một nơi để chịu danh là ĐẠI TỪ PHỤ? Tu hành của ta từ bấy lâu nay, nếu tới đây mà không đến được để kiến diện Ngài, có phải chăng bởi mờ hồ, phân vân hay lầm lạc đã đua chen theo con đường giả pháp?
 
Còn PHI TƯỞNG DIỆU THIÊN nhờ:
 
“ BÁT NƯƠNG thật Đấng Chí Linh,
Cùng chung giáo hóa ân cần lo âu”.
 
Cùng chèo Bát Nhã hộ trì Vạn Linh sanh chúng, vâng mạng lịnh HỔN NGƯƠN là Tăng đồng thể đồng tánh với PHẬT THUỘC PHẬT HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN nên PHI TƯỞNG có đủ PHẬT, PHÁP, TĂNG.
 
Trước kia, điều nầy Đức CHUẨN ĐỀ Bồ Tát cho biết: Trong năm Cung, Cung nào cũng có đủ PHẬT, PHÁP, TĂNG.
 
Ngày nay, chính Đức CHÍ TÔN đến giải quyết Tứ Diệu Đề, đưa Vạn Linh nhập Cực Lạc Thế Giới, chuyển Pháp Độ PHI TƯỞNG đặng cứu khổ không những về thể xác vật chất khí, còn cứu khổ tinh thần gìn giữ Ngươn Khí của Vạn Linh, đúng như lời Đức HỘ PHÁP đã thuyết:
 
“ Nếu ai đã thấy thì đó không phải là cảnh phàm nầy vậy, mà mãi từ thử đến giờ, làm người, ai có biết tìm chổ thật của mình không?”
 
Chứng tỏ pháp độ PHI TƯỞNG là đưa Vạn Linh đến tận thức để vào:
 
“ Cung DIỆT BỬU Ngọc rèm đã xủ,

Nghiệp hửu hình tượng đủ vô vi.

 
Vạn Linh nương theo tu hành chốn PHẠM MÔN để được trí huệ.
 
Khi PHẬT MẪU nhìn nhận nơi ĐỊA LINH ĐỘNG Phổ Hiền những ai có màng màng tam lập thì sẽ đem Chơn Thần lên NGỌC HƯ CUNG tức là được trí giác. Có như vậy thì ta mới có thể trả cái hiếu hạnh cùng PHẬT MẪU, đối với nợ tình không riêng ở kiếp nầy mà ta đã đa mang nó từ bao kiếp trước.
 
Đức CHUẨN ĐỀ Bồ Tát có nói: “ Mình phải làm hết, còn Đức HỘ PHÁP về tới đây là đã xong rồi, Ổng chỉ định vị mà thôi. Và nếu ai cũng có đức tin, chỉ bằng một hột mè mà thôi, thì chừng nữa giờ đồng hồ sau, Ổng sẽ về tới”.
 
Sở dĩ phải như thế, vì cơ phổ độ của CHÍ TÔN đã chuyển qua Bí Pháp, nên ai cứ đứng chờ là tự giục thối tinh thần, kể như chỉ còn tin Đạo Giáo, chớ con đường Thiêng Liêng mà Đức HỘ PHÁP đã mở ra, ta không thể thấy được.
 
Còn ai muốn thẳng tới HƯ VÔ CAO THIÊN, là muốn tới điểm giao hợp khởi nguyên không gian, bắt đầu thời gian, từ đó phát xuất, vì đó phản hồi, thì vẫn đúng chơn lý, dù cho theo Tôn Giáo nào cũng dạy phản bổn hoàn nguyên. Bởi muôn loài đều do Kim Bàn hiển hiện, tùng Chánh Pháp siêu rổi. Theo như trong nền Chơn Đạo của CHÍ TÔN, trước đã tạo Thể Pháp có Bộ Pháp Chánh trong nội thân Hiệp Thiên Đài. Phẫm TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh phải tùng Hiệp Thiên Đài. Kể đến Bí Pháp thì Đấng cầm quyền trong pháp giới là HƯ VÔ CAO THIÊN phải vâng mạng lịnh nơi HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN, ta thấy nơi đây mới có Cung CHƯỞNG PHÁP lo xây quyền Tạo Hóa. Hể hình thế nào thì bóng như vậy.
 
Khi ta đã trí giác rõ được Chơn Pháp thì nơi đây nhờ Đức HỘ PHÁP MỞ CỬA Bát Quái Đài để cho ta làm bạn với các Đấng Thiêng Liêng. Vậy nơi HƯ VÔ CAO THIÊN thế nào? Là nơi dành cho những giác hồn được kiến diện Đức CHÍ TÔN để hưởng hồng ân do Đức CHÍ TÔN ban cho Chơn Linh.
 
Ta chẳng rõ quyền năng của CHÍ TÔN tới đâu, nhưng biết rằng nếu Ngài đã ban cho ta Chơn Linh thì Vạn Linh đều hiểu là ta đã được tương liên hiệp một trong Tam Bửu mà giải thoát đạt Đạo. Bởi HƯ VÔ CAO THIÊN là nơi qui pháp. Tất cả Tông Đường phải qui hiệp để được Đức CHÍ TÔN điểm Đạo.
 
Ai lại chẳng mong, nhưng muốn đến đây phải để tinh thần dục tấn trên đường Cửu Thiên Khai Hóa. Đó là con đường Chánh Pháp của Đạo Cao Đài.
 
Con đường nầy có độ sanh và độ tử.
 
- Độ tử, nương theo từ nhứt cửu đến Đại tường, sau khi bỏ xác.
- Độ sanh thì qua Thể Pháp, tùng Bí Pháp, dục tấn tinh thần lên cầu Bát Quái Đài mà đi từ HẠO NHIÊN đến HỔN NGƯƠN.
 
. Có điều đáng nói là phải tới HƯ VÔ CAO THIÊN mới đắc Pháp, đắc Phật, vì chính Ngôi THÁI CỰC tại đây. Ở đây đợi Đức CHÍ TÔN phán định ngôi thứ.
 
Xét qua trong Pháp Chánh của CHÍ TÔN đã định quyền cho HỘ PHÁP vô vi, GIÁO TÔNG hửu hình, hơn nửa HỘ PHÁP còn nắm luôn cả Bát hồn, tức là vi chủ Bát hồn, dù đạt tới Phật vị vẫn dưới quyền năng HỘ PHÁP.
 
Theo như câu kinh: “Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn Chưởng Âm” đã hiểu rằng trong 9 tuần cửu, cứ mỗi cửu đều có một vị Tiên Nương trách nhiệm, cho đến ngày giờ Thiên cơ chuyển định thì Cửu Vị trở về chầu Đức PHẬT MẪU làm chủ các Tử Hồn, mà Bát Hồn thì trong tay HỘ PHÁP.
 
Còn lúc “ Hư vô Bát Quái trị Thần qui nguyên” thì số Âm linh nầy được PHẬT MẪU đưa đến HƯ VÔ CAO THIÊN. Số Tử Hồn hay Âm Linh là tử khí phải thọ lịnh HỘ PHÁP, khi mở cửa Bát Quái Đài thì họ chính là những người bạn Thiêng Liêng đến giúp đỡ con cái Đức CHÍ TÔN còn đang dung ruổi trên đường hằng sống. Rồi từ NGỌC HƯ CUNG, Linh Tiêu Điện, các Nhơn Hồn theo chơn Đức HỘ PHÁP qua mở Cực Lạc Thế Giới.
 
Tuy trước đây, Đức CHUẨN ĐỀ đã cung nghinh Đức HỘ PHÁP Di Đà vào ngự nơi Lôi Âm Tự, nhưng cũng còn lời hứa của Đức HỘ PHÁP: “Bần Đạo hứa sẽ mở cửa Bát Quái Đài…”. Nên tới đây Đức Ngài còn phải:
 
“ Giáng Linh HỘ PHÁP DI ĐÀ”.
 
Giúp cho Đức Di Lạc Chưởng Quản HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN. Và vì lo chuyển vô vi mà HỘ PHÁP giao cho Đức DI LẠC thay quyền CHƯỞNG PHÁP độ rổi Vạn Linh tấn hóa lên ngươn Thánh Đức.
 
Đối với cơ quan nắm chánh trị Càn Khôn và luật Thiên Điều là HƯ VÔ CAO THIÊN mà trách nhiệm trọng yếu đó, hiện nay vẫn còn trong tay Đức Lý. Nhờ vậy Đức Lý có đủ quyền năng Thiêng Liêng giúp cho cơ chuyển pháp sớm ra thiệt tướng đặng giao quyền GIÁO TÔNG lại cho Đức DI LẠC Vương Phật.
 
Thành ra, muốn lập nên một chương trình Long Hoa Đại Hội phải có đủ hai điều kiện tiên quyết:
 
1.-Các Tông Đường đã qui hiệp tại NGỌC HƯ CUNG rồi.
2.-Đã vào Lôi Âm Tự kiến diện Đức HỘ PHÁP Di Đà.
 
Thử hỏi vì sao mà Đức DI LẠC cũng phải tùng HỘ PHÁP Di Đà mới khai mở được HỘI NGƯƠN THIÊN?
 
Đây là Bí Pháp “ Phật, Pháp, Tăng”. Ta khó tìm cho thấu đáo. May nhờ Đức LÝ ĐẠI TIÊN đã lộ quyết định Thiên Cơ:
 
 Từ trước mấy ai đến trị phàm,

. Giữa trần nay đến lập Lôi Âm.”

 
Rõ ràng từ Thể Pháp Hiệp Thiên Đài có tương liên mật thiết với Bí Pháp HƯ VÔ CAO THIÊN.
 
Nếu Hiệp Thiên Đài giáo hóa Chơn Truyền Phổ Tế Chúng Sanh, thì HƯ VÔ CAO THIÊN dẫn độ Chơn Linh đắc Pháp, đắc Phật thuộc về Bí Pháp Thiên Đạo.
 
Đã cùng đi trên con đường Đạo, ai không thấy Chơn Pháp CHÍ TÔN để nương theo, thì không sao tới Cung Phục Linh mà được phục linh tánh Phật, thì nguyện vọng muốn chứng kiến cái cảnh Đại Hội Long Hoa tới đây , có phải chăng là ta đã tự khép mình nằm ôm nguyện vọng trong ảo giác?
 
Nói đến đức tin thì ai cũng có. Ai cũng tin quyền năng tạo hóa của CHÍ TÔN: Hễ đã làm chết được thì sẽ làm sống được. Ta tin nhưng chưa thấy. Khi nào cơ chuyển Pháp tới HƯ VÔ CAO THIÊN thì cả thảy Vạn Linh đều mục kiến. Đến ngày giờ qui pháp thì việc sử dụng quyền linh chắc chắn không còn ai không tùng phục. Chỉ may duyên cho những ai không đợi tới cảnh tượng đó mà họ đã tin, đã kính phục, tìm Chơn Pháp trở về CHÍ TÔN.
 
Vì tới đây sẽ được phục nguyên Thánh Thể của Đức CHÍ TÔN đặng nhìn thấy Đức DI LẠC, đến chừng Ngài nhìn nhận tại HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN đã trở nên TĂNG.
 
Ta đã biết ban sơ khai Đạo, Đức CHÍ TÔN vẫn tùng theo định luật tấn hóa mà mở cơ phổ độ, như đứa trẻ chỉ biết sống từ bẩm sinh cho đến cái sống của tiểu hồi do PHẬT MẪU ban cho. Đạo cũng vậy, mới khai Thể Pháp thì chỉ cần tạo Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, tức Pháp và Tăng. Đến khi trưởng thành, ta đã ý thức mọi việc, mọi lẽ thì sự dục tấn tinh thần được PHẬT MẪU chuyển lên quyền năng của CHÍ TÔN đặng ban thêm cho ta cái sống đại hồi. Cái sống đó đã thích nghi được theo cơ qui nhứt, mới xuất hiện vô vi Bí Pháp để chúng sanh tùng pháp sống với đại hồi, đặng rõ chốn:
 
“ Hư vô Bát Quái trị Thần qui nguyên” nằm trong cửa Đạo Cao Đài. Vạn Linh tấn hóa đến đây mới nói là đạt Đạo. Và nhớ lại lời hứa của Đức CHÍ TÔN: “Sẽ sống cùng con cái của Người đời đời không cùng đến thất ức niên”thêm lời khẳng định: “ Không giao Chánh Giáo cho tay phàm”, thì ta đủ đức tin rằng chính mình Đức CHÍ TÔN phải đến. Đến thì phải có Tăng, nhưng cái Tăng của Ngài nơi HỔN NGƯƠN THƯỢNG THIÊN. Ngài cũng mang mảnh thân tứ đại như ta đặng giải quyết tứ diệu đề.
 
Thương thay cho cái thảm khổ đắng cay mà Ngài đã tự đày đọa để sống chung cùng con cái của Ngài, vậy mà dù tới HƯ VÔ CAO THIÊN, Ngài cũng chưa chịu danh là ĐẠI TỪ PHỤ. Ngài còn gánh thêm khổ hải để nâng đở con cái của Ngài cho đến khi ra Chơn Đạo mới thôi.
 
Giải bày ra đây, không biết có phạm hay chăng? Nhưng ta đã cả gan dám phanh phui không những PHI TƯỞNG Pháp, lại còn HƯ VÔ Pháp, cũng vì lẽ ấy.

 

CHƠN PHÁP LUYỆN ĐẠO.

 

 
Luyện là tạo sức mạnh hửu hình tức Thiền.
Tịnh là tạo sức mạnh vô hình tức Đạo.
Luyện đi trên Cửu Thiên Khai Hóa là Thức.
Tịnh về với Cực Lạc Thế Giới là Ngủ.
 
Pháp môn của Tôn Giáo tu tập có khác pháp giới, phương tiện, nhưng đều tiến đến mục đích hoàn nguyên Tam Bửu đạt Đạo. Ngay cả Đạo Cao Đài cũng có nơi tịnh, luyện như: Trí Huệ Cung, Trí Giác Cung, Vạn Pháp Cung. Hiện nay chưa áp dụng, chỉ dâng Tam Bửu trong thời cúng và phải cùng lo tam lập. Vì phải qua hai thời kỳ:
 
Nhơn Đạo là phần lo cho mình.
Thiên Đạo là phần lo cho người khác, để trả nợ tiền khiên và hiện tại.
 
Nhơn Đạo có Tam Cang, Ngủ Thường, Tam Tùng,Tứ Đức và đủ tam lập mới mong lập ngôi vị.
 
Thiên Đạo từ tam lập tiến lên tam thiện, hành Phương Luyện Kỷ của Đức HỘ PHÁP chỉ dạy.
 
Trải qua giai đoạn sống với tiểu hồi vào đường Thánh là: Hỉ, Lạc, Ái, đối chiếu kinh từ đệ ngủ cửu đến đệ thất cửu. Và nơi Thiêng Liêng Hằng sống có hai chữ Vạn màu trắng và đỏ hồng hồng ngăn chận Cực Lạc môn ngoại, nên câu kinh ngủ cửu:
 
“ Ánh hồng chiếu đường mây rở rở,
Cõi Xích Thiên vội mở ải quan”.
 
Trong đệ lục cửu:
 
“ Bạch Y Quan mở đàng rước khách,
Cõi Kim Thiên nhẹ tách tiên xa.
Vào Cung Vạn Pháp xem qua”.
 
Đến đệ thất cửu là không còn ngồi chờ đợi nơi Cực Lạc môn ngoại, ta bắt đầu sống với đại hồi, nên thấy được:
 
“ Cung Chưởng Pháp xây quyền Tạo Hóa,
Kiến CHUẨN ĐỀ, thạch xá giải thi”.
 
Thể Pháp dứt, chuyển qua Bí Pháp. Không riêng Đạo Cao Đài, CHÍ TÔN đã chuyển Bí Pháp khắp nơi cho Nhơn Sanh biết tìm về cái sống trường sanh hòa sự sống trong Càn Khôn Vũ Trụ.
 
Từ Nhị Kỳ, Đức Phật THÍCH CA chỉ dạy 8 vạn 4 ngàn pháp môn để tùy căn cơ phổ độ. Nay buổi Tam Kỳ, Vạn pháp qui nhứt, do chính Đức Phật thuyết định trong DI LẠC CHƠN KINH: “ Nhược hửu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tùng thị Pháp Điều Tam Kỳ Phổ Độ”. Chứng minh rằng: NGỌC HƯ CUNG bát luật, LÔI ÂM TỰ phá cổ có Thiên Thơ tiền định. Nên Bí Pháp Đạo Cao Đài không riêng hoặc ưu tiên cho bất cứ một ai.
 
Nó là đề thi tuyển chọn bậc Đạo Tâm đại học của Tam Giáo Ngủ chi, kể cả Vạn Linh trong Càn Khôn Thế Giái. Đức CHÍ TÔN rộng mở độ sanh, nhưng tùy căn cơ độ lần mà phán ra buổi ban đầu:
 
· Đường thứ nhứt: tạo Chơn Khí thuộc Cửu Trùng Đài,
· Đường thứ hai: Ban Chơn Thần thuộc Hiệp Thiên Đài.
· Đường thứ ba: Ban Chơn Linh thuộc Bát Quái Đài.
 
Chỉ là 3 đoạn đường nối tiếp, trở thành con đường Chánh Giáo của Đức CHÍ TÔN để dìu dắt lẫn nhau trên Cửu Thiên Khai Hóa mà đạt Đạo.
 
Vì tin biết Bí Pháp là cơ quan giải thoát đạt Đạo, nên khi nghe có Chơn Sư chỉ dạy Bí Pháp luyện Đạo, truyền tâm ấn, khai ngộ Phật tánh, xuất Chơn Thần, hiệp Tam Bửu thì ai cũng mê, nông nã theo nhiệt tình, tín ngưỡng mạnh mẻ. Việc nầy, không phê phán rằng hay dở, đúng sai, chỉ có vui lây cùng thời buổi nhơn sanh tỏ ngộ lo trường trai đạo đức, thật đáng quí biết bao.
 
Nhơn sanh tu, muốn đạt Đạo, dĩ nhiên phải nhờ Chơn Sư chỉ điểm, khai khiếu.
Vấn đề then chốt là ở đây.
Chơn Sư thì quán thông vô vi, thực chứng hửu hình bởi Chơn Linh vô vi, thể xác hửu hình, rõ cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống vì đã nhập vào cảnh giới. Đã đi khắp các Cung, các Điện, diện kiến Đức CHÍ TÔN NƠI Bạch Ngọc Kinh và THỌ LẢNH Thiên Mạng, tức là mang trọng trách qui Tam Giáo hiệp Ngũ Chi, đại đồng nhơn loại đặng mở Long Hoa Đại Hội, kết thúc tam chuyển, để bước qua kỷ nguyên Thánh Đức.
 
Nói ngắn gọn thì Chơn Sư đạt Bí Pháp, thông thể pháp, tánh hiệp vô vi, nhất quán Phật, Pháp, Tăng và có Thiên Mạng.
 
Bây giờ, ta tìm căn bản trong Pháp Môn luyện Đạo là lấy Tiên Thiên Khí, vận hành khí âm dương trong cơ thể làm cho chơn tinh hóa chơn khí, luyện tinh đã hóa khí thì thành phần tế bào nguyên tử là 1 dương, 3 âm.
 
Còn Đức CHÍ TÔN? Cơ thể là Cửu Trùng Đài tức Tịnh, vận hành pháp giới nên Chơn Khí nếu nói hửu vi là đạt ánh khí: GIÁO TÔNG và 3 ĐẦU SƯ.
 
Tạo được Chơn Khí, PHẬT MẪU ban hiệp Chơn Thần tức HỘ PHÁP trấn giữ Nê Hườn Cung, hoặc HỘ PHÁP ngự tại Trí Huệ Cung, Đức Ngài có dạy: Tinh Thần ta khôn ngoan là nhờ 3 hột tối thiểu nơi trí não: Một điện tử dương và 2 điện tử âm.
 
Còn Chơn Thần Đức CHÍ TÔN là Hiệp Thiên Đài: Một là HỘ PHÁP, còn 2 là THƯỢNG PHẨM, THƯỢNG SANH.
 
Đến giai đoạn luyện khí hóa Thần, là từ Nê Hườn (phách cực dương) nhờ Dương Quang Đức CHÍ TÔN phá khiếu huyền quang vô hình xuyên thấu phách Thượng Đình đạt huệ nhãn. Còn Đức CHÍ TÔN thì chuyển pháp từ Hiệp Thiên Đài đưa qua Bát Quái Đài là tạo đệ nhị xác thân ( đó là tử khí).
 
Trong Bí Pháp luyện Đạo, chuyển khí âm dương thông các phách, mỗi vòng là một chu kỳ gọi luân xa, điểm tối trọng phải tạo được ngủ khí. Tiểu Thiên Địa của ta có ngủ tạng do các tế bào nguyên tử liên kết hình thành khi chuyển luân xa, ngủ tạng nhờ dương khí mà tiết ra chất hơi thành ngủ khí tức Hậu Thiên Ngủ Khí.
 
Đại Thiên Địa của CHÍ TÔN có Ngủ Cung, cũng phải do các tế bào liên kết, chỉ khác nhau tế bào lớn nhỏ.
 
- Chuyển luân xa qua ngủ tạng là phương pháp độc luyện.
- Dục tấn tinh thần qua Ngủ Cung là phương pháp đồng luyện.
 
Độc luyện là luyện từ ngoài vào trong, hồi quang phản chiếu khai ngộ Phật tánh, xuất Chơn Thần, đạt Hậu Thiên Ngủ Khí từ ngủ tạng, bằng con đường sống hiện minh là dục tấn luân xa. Nên chỉ tìm Phật tánh bên trong, còn ngoài Càn Khôn, thấy cảnh mà không phải cảnh, thấy vật cũng chẳng phải vật, hàm ý mơ hồ rằng: Sắc tức thị không, không tức thị sắc.
 
Còn như pháp môn Đại Đạo thì phân hai bí pháp:
 
1.- Ứng dụng luyện Đạo tập thể tại Trí Huệ Cung và Vạn Pháp Cung sau ngày Long Hoa Đại Hội.
 
2.-Áp dụng cho cơ phổ độ đại ân xá hiện nay bằng pháp giới đồng luyện.
 
Vì Bí Pháp đạt Đạo Đức CHÍ TÔN để trước mặt thiên hạ. Ta thấy bên ngoài cơ thể Đức CHÍ TÔN là hình trạng Thể Pháp, bên trong là Bí Pháp Ngủ Cung mà Đức Phật THÍCH CA đã thuyết trong DI LẠC CHƠN KINH.
 
Nếu ngủ tạng đã do hằng tỷ tế bào âm dương liên kết nên hình tạo thành Hậu Thiên Ngủ khí thì ta nương cái sống đó mà sống nơi Bí Pháp Ngủ Cung, tức là luyện từ trong ra ngoài, chuyển Hậu Thiên hòa cùng Tiên Thiên Ngủ khí.
 
Luyện bên trong là con đường luân xa, luyện ra ngoài là con đường Thiêng Liêng Hằng Sống hay Ngủ Cung, đạt Tiên Thiên Ngủ khí bởi dục tấn với tam lập, hành phương Luyện Kỷ cả Nhơn Đạo và Thiên Đạo.
 
Chơn Thần ta sáng suốt nhờ 3 hột nguyên tử. Chơn Thần CHÍ TÔN sáng suốt nhờ 3 chi: Pháp, Đạo, Thế.
 
Xuất Chơn Thần là Tử Khí trên đây. Vì không gian đã đứng trên, thời gian ở dưới không gian nâng đở, thời gian chuyển vận.Thời gian đi từ không gian (không tức thị sắc) mà tác thành cơ tạo hóa để giữ mức điều hòa.
 
Cho nên Cửu Trùng Đài và Phước Thiện cũng là Thể Pháp, thuộc quyền năng bán hửu hình của Hiệp Thiên Đài. Còn phần bán vô vi là Hiệp Thiên Đài hiệp một với Bát Quái Đài. Thiên Nhãn hay huệ nhãn phát hiện từ điểm linh quang nầy được dương quang xuyên thấu mà tử khí vận hành nơi Thiêng Liêng Hằng Sống theo thời gian đi tận cùng chơn lý và theo luật hoàn nguyên: Thành, Trụ, Hoại, Không (sắc tức thị không) thời gian lại đứng trên không gian ở dưới để giữ cho đúng nét công bình.
 
Dương Quang từ Nê Hườn mở đệ bát khiếu vô hình sẽ phát xạ hào quang huệ nhãn nơi thượng đình.
 
Nên ta đứng tại Bát Quái Đài của Tòa Thánh nhìn lên thấy đại hải mênh mông, dẩy đầy thiên tượng, mà tinh thần ta bắt đầu đi từ Tịnh Tâm Đài. Kế thấy sau Thánh Tượng Đức HỘ PHÁP là chữ Khí, tức khí sanh quang hằng sống .
 
Thể Pháp đã tạo nên hình,
Bí Pháp phải tạo nên tướng.
 
Thử hỏi, ta tìm Đức CHÍ TÔN trên đường dục tấn (Thần hườn hư) ta gặp cảnh HỘ PHÁP đã gặp là thấy PHẬT MẪU đứng trước, còn Đức DI LẠC quì sau lưng đang chấp tay đưa lên thì nghĩ ra sao? Có vị Chơn Sư nào thực chứng điều nầy?
 
Nếu câu trả lời: Đó chỉ là tư tưởng tạo nên ảnh tượng. Hóa ra câu: Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng do Phật THÍCH CA chỉ dạy trong Tân Kinh DI LẠC là vô giá trị hay sao?.
 
Các Chơn Sư cùng bước trên đường Thiêng Liêng Hằng Sống phải biết rõ cảnh đó vì đã thông đồng tư tưởng. Như không thể, thì cách giải thích thứ nhứt là các Chơn Sư không đến cảnh mà Đức HỘ PHÁP đã gặp.
 
Cách thứ hai là các Chơn Sư xuất Chơn Thần đi trong cảnh giới vô vi chỉ là vô vi, chớ không cùng đi trên một con đường Hằng Sống với HỘ PHÁP.
 
Điều nầy có lẽ do sự luyện Đạo mà tạo cho sợi dây tử khí có năng lực thun, giản khác nhau nên biến thành làn sóng điện phát sóng khác nhau.
 
Quan trọng của luyện Thần hườn hư ngay điểm nầy.
 
Luyện Thần hườn hư, nếu may duyên được hồng ân diện kiến Đức CHÍ TÔN, tức khối công bình bác ái, thì ta trả lời thế nào về sở hành nhơn Đạo và Thiên Đạo để chứng minh tam lập cho vừa sức CHÍ TÔN muốn, cho vừa ý CHÍ TÔN định, ngõ hầu Ngài ban Chơn Linh rồi trở lại cùng thể xác thiêm thiếp đợi chờ.
 
Còn thiếu thì tiếp tục và thực hành đúng luật thương yêu rồi thì Đức CHÍ TÔN giữ quyền công chánh như đệ tam hòa ước nơi Tịnh Tâm Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
 
Riêng Bí Pháp luyện Đạo, nếu hiện có trong ngưỡng cửa Cao Đài, thì khi cầu xin Đức CHÍ TÔN tăng sức thêm Thần tức là niệm Phật, Đức CHÍ TÔN đang trấn ngự tại HẠO NHIÊN PHÁP THIÊN. Khi cầu xin Đức HỘ PHÁP giữ Nê Hườn Cung tức là niệm Pháp, Đức HỘ PHÁP đang ngự tại Cung CHƯỞNG PHÁP để xây quyền tạo hóa.
 
Còn vị Chơn Sư khai khiếu là vị đã được CHÍ TÔN và HỘ PHÁP nhìn nhận sở hành thay thế tại hửu hình tức là niệm Tăng.
 
Nếu vị Chơn Sư đã chấp nhận truyền tâm ấn, chỉ cho thấy Phật tánh của ta, cần nhứt là dám bảo lãnh sự đạt Đạo hiện kiếp, ta mới đủ niềm tin luyện Đạo, vì Chơn Sư nói ờ một tiếng là ta thấy đủ tam bửu bởi quyền năng của Chơn Sư do Đức CHÍ TÔN và HỘ PHÁP ban quyền ,quyết định.
 
Phạm Môn tu chơn phải là Chơn Tu, khai khiếu cho đạt Đạo là bậc Chơn Sư. Chơn Sư phải như thế mới đúng nghĩa.
 
Chơn Sư rất nhiều trong Càn Khôn Thế Giới, đã thọ lãnh mạng lịnh của Đức CHÍ TÔN, nhưng Chơn Sư gọi là đúng nghĩa: Dạy cho đạt Đạo, giúp cho hiệp tam bửu, có lẽ không ngoài Đức DI LẠC.
 
Khi Thần hườn hư là ta được đặc ân về đến HƯ VÔ CAO THIÊN. Bất cứ một Chơn Thần nào cũng phải tìm về, nơi đây là NGỌC HƯ CUNG qui hiệp tất cả các Tông Đường, trong đó đã có các bậc Chơn Sư Thiên Mạng dẫn nẽo tây qui.
 
Đức HỘ PHÁP cho biết Tông Đường cao trọng hơn hết là Tông Đường QUAN ÂM BỒ TÁT, kế là Tông Đường Đức DI LẠC. Nhưng Đức QUAN ÂM đã vâng mạng lịnh nơi Đức DI LẠC Vương Phật, ta nên tìm hiểu Thánh ý rất cao xa.
 
Các Tông Đường lớn, nhỏ đều qui hiệp để tùng lịnh một Đấng chủ quyền tối cao gọi là GIÁO TÔNG.
 
Nếu luyện đến mức Thần hườn hư, tức là hoàn nguyên thì Tiên Thiên Ngủ Khí trở thành Dương Khí, gọi Chơn Nhứt Khí hay Hổn Ngươn Khí, thì các Chơn Sư Thiên Mạng cùng các bậc nguyên căn đều được “Vào Lôi Âm kiến A-Di” chính Đức Ngài đã giáng linh “ Thâu các Đạo hửu hình làm một
 
Tới đây thì không còn lạ gì việc xuất Chơn Thần. Ta xuất Chơn Thần mà sợi dây tử khí của ta không tiếp được làn sóng điện từ sợi dây tử khí của Ngài thì không thể kiến diện Ngài, mà không kiến diện A-Di tại Lôi Âm Tự thì dù cho luyện Đạo biết rõTiên Tánh, Phật Tánh cũng chỉ là giã tướng mà thôi.
 
Phải kiến diện Ngài trước đã, mới mong được phục nguyên Thánh Thể, là Tiên Tánh, Phật Tánh của ta.
 
Tuy không ai dám kết luận Ngài đang ở cõi Thiêng Liêng Hằng Sống hay đang tại mặt địa cầu, nhưng một khi ta đã có đức tin cùng bằng chứng vô đối để xứng đáng là phần tử trong Thánh Thể của Đức CHÍ TÔN, sẽ không còn thuộc Phật nữa, mà đương nhiên thuộc Tăng.
 
Cho nên giữa lúc nầy ta chẳng cần biết ta là ai, ai cũng được, miễn sao đề thi Bí Pháp của Đức CHÍ TÔN ta làm đặng, làm đúng, mang bằng cấp đáng giá về cho Ngài, thì khuê bài Thiêng Liêng vị, Ngài sẽ ban cho ai?
 
Ta hiểu Đấng ngự Ngôi Thái Cực từ khí Hư Vô là khối bác ái công bình thì cứ thanh tâm thường lạc mà sống với cái sống đúng nghĩa của một nhơn hồn.
 
Kỳ nầy Đức CHÍ TÔN mở cơ đại ân xá cho hiệp Thần. Đã hơn hai ngàn năm, quyền Thiêng Liêng không cho hiệp Thần bởi thất pháp. Nay Đấng vi chủ đến chỉ rõ sự tương liên tam bửu, nên ta chỉ luyện trong pháp môn của chính Ngài mới mong đạt Đạo.
 
Cụ thể là khí hóa thần, thần ở đâu?
 
Đức CHÍ TÔN vi chủ Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tại Bát Quái Đài thuộc Thần, Đấng ấy chủ về Thần.
 
Ta muốn luyện để hiệp tam bửu, mà thấn thuộc quyền Bát Quái Đài, ta vân du khắp Vũ Trụ Càn Khôn cũng chưa từng thấy Bát Quái Đài, nếu tự xưng là Tiên, là Phật thì quả nhiên quá đáng. Phải chi ta lấy sở hành từ bi, bác ái, phụng sự chúng sanh, thức tỉnh con cái của Đức CHÍ TÔN trở về dưới chân Ngài. Sở hành xuất hiện như vậy là Tiên Tánh, Phật Tánh. Còn điều khiển sở hành Đạo Đức đó tức là Phật Tâm. Nếu có nhận xét thì thấy ngay, chớ kiếm tìm xa xôi không có lợi ích gì.
 
Để kết luận, ta cần đặt vấn đề:
 
Tại sao nền Chánh Giáo của Đức CHÍ TÔN ngày nay lại xuất hiện Chơn Pháp luyện Đạo? Là để cho phù hợp tinh thần dục tấn của nhơn sanh đang tìm đường Thiêng Liêng Hằng Sống, nên phân tách việc luyện Đạo xuất Chơn Thần. Nếu Đức CHÍ TÔN không cho Dương quang xuyên thấu thì không ai phá được khiếu vô hình để đạt huệ nhãn. Muốn đạt, ta luyện trong cơ thể của Đức CHÍ TÔN, làm tế bào liên kết từ não bộ là Hiệp Thiên Đài nhờ Đức CHÍ TÔN chiếu Dương quang chuyển phá huyền quang vô hình tức Bát Quái Đài mới đạt huệ nhãn tại Thượng Đình Cửu Trùng Đài.
 
Thuyết Đạo của Đức HỘ PHÁP có nói: “ Cửa Hư Linh không ưa kẻ tàn bạo, lạ thay! Thiêng Liêng vị phần nhiều do những kẻ tàn bạo phá cửa chung vô”.
 
Thể Pháp là hình, Bí Pháp là bóng.
Thể Pháp đã giải, Bí Pháp phải tan.
Luyện Chơn Pháp, Tịnh Chơn Đạo.
Chơn Pháp thành thì Chơn Đạo thành.
Chơn Đạo thành thì Đại Hội Long Hoa khai mạc.

Liên Thanh Sưu Tập


( Đánh giá của bạn về sản phẩm này)





Đánh giá sản phẩm
Tất cả (0) 5 sao (0) 4 sao (0) 3 sao (0) 2 sao (0) 1 sao (0) Có bình luận (0) Có hình ảnh (0)
Xem thêm

Sản phẩm cùng shop

Hết hàng
BẾP KHÈ GAS CÔNG NGHIỆP BLUESTAR BS-5A1N

BẾP KHÈ GAS CÔNG NGHIỆP BLUESTAR BS-5A1N

549.000đ690.000đ

GHToàn Quốc

-20%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP HẦM 280C NIKKO ( Xanh Nhạt )

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP HẦM 280C NIKKO ( Xanh Nhạt )

599.000đ649.000đ

GHToàn Quốc

-8%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ BLUESTAR BS-5A2.T ( 6A )

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ BLUESTAR BS-5A2.T ( 6A )

649.000đ700.000đ

GHToàn Quốc

-7%
GIẢM
BẾP GAS KHÈ LỬA XOÁY SOGO GT-168-5Q

BẾP GAS KHÈ LỬA XOÁY SOGO GT-168-5Q

599.000đ649.000đ

GHToàn Quốc

-8%
GIẢM
BẾP CÔNG NGHIỆP KHÈ CT-10B PETROCITY ( Trắng Bạc )

BẾP CÔNG NGHIỆP KHÈ CT-10B PETROCITY ( Trắng Bạc )

899.000đ950.000đ

GHToàn Quốc

-5%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ PETRO CITY CT-( 7B) ( Trắng Bạc )

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ PETRO CITY CT-( 7B) ( Trắng Bạc )

799.000đ890.000đ

GHToàn Quốc

-10%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ CITY CÁN TRUNG CT-168C

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ CITY CÁN TRUNG CT-168C

449.000đ520.000đ

GHToàn Quốc

-14%
GIẢM
BẾP CÔNG NGHIỆP KHÈ MỒI LỬA CITY 5BS

BẾP CÔNG NGHIỆP KHÈ MỒI LỬA CITY 5BS

499.000đ590.000đ

GHToàn Quốc

-15%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ MỒI LỬA CITY 6B

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ MỒI LỬA CITY 6B

649.000đ720.000đ

GHToàn Quốc

-10%
GIẢM
BẾP GAS KHÈ CÔNG NGHIỆP CÁN DÀI MỒI LỬA CITY CT-6A2

BẾP GAS KHÈ CÔNG NGHIỆP CÁN DÀI MỒI LỬA CITY CT-6A2

749.000đ890.000đ

GHToàn Quốc

-16%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ VIP CITY (VÀNG) CT- 5A1 V

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ VIP CITY (VÀNG) CT- 5A1 V

699.000đ790.000đ

GHToàn Quốc

-12%
GIẢM
BẾP GAS 1 Lò BÁN CÔNG NGHIỆP KHÈ SOGO GT-208 S1

BẾP GAS 1 Lò BÁN CÔNG NGHIỆP KHÈ SOGO GT-208 S1

649.000đ890.000đ

GHToàn Quốc

-27%
GIẢM
BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ CÁN NGẮN WONDERFUL 5A1

BẾP GAS CÔNG NGHIỆP KHÈ CÁN NGẮN WONDERFUL 5A1

799.000đ890.000đ

GHToàn Quốc

-10%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-4600 (GL)

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-4600 (GL)

2.099.000đ2.900.000đ

GHToàn Quốc

-28%
GIẢM
Bếp gas đôi Rinnai RV-4600(GL-T)N

Bếp gas đôi Rinnai RV-4600(GL-T)N

2.219.000đ2.900.000đ

GHToàn Quốc

-23%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI Rinnai RV-5700-SCH(BW)

BẾP GAS ĐÔI Rinnai RV-5700-SCH(BW)

2.859.000đ2.990.000đ

GHToàn Quốc

-4%
GIẢM
 BẾP GAS DƯƠNG Rinnai RV-715Slim(GL-Bubble)

BẾP GAS DƯƠNG Rinnai RV-715Slim(GL-Bubble)

1.649.000đ1.850.000đ

GHToàn Quốc

-11%
GIẢM
Bếp gas dương Rinnai RV-615Slim(GL-Bubble)

Bếp gas dương Rinnai RV-615Slim(GL-Bubble)

1.599.000đ1.750.000đ

GHToàn Quốc

-9%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM(GL-PE)

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM(GL-PE)

1.749.000đ1.900.000đ

GHToàn Quốc

-8%
GIẢM
BẾP GAS Đôi RINNAI RV-715 SLIM(GL-D)

BẾP GAS Đôi RINNAI RV-715 SLIM(GL-D)

1.699.000đ1.890.000đ

GHToàn Quốc

-10%
GIẢM
BẾP GAS Đôi RINNAI RV-615SLIM(GL-D)

BẾP GAS Đôi RINNAI RV-615SLIM(GL-D)

1.549.000đ1.790.000đ

GHToàn Quốc

-13%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-3715GL(FM)

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-3715GL(FM)

1.249.000đ1.390.000đ

GHToàn Quốc

-10%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM(GL-SC)

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM(GL-SC)

1.749.000đ1.890.000đ

GHToàn Quốc

-7%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-3615GL(FM)

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-3615GL(FM)

1.169.000đ1.290.000đ

GHToàn Quốc

-9%
GIẢM
Bếp gas đôi Rinnai RV-7Double Glass(L)

Bếp gas đôi Rinnai RV-7Double Glass(L)

1.499.000đ1.590.000đ

GHToàn Quốc

-6%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM SCH ( VP )

BẾP GAS ĐÔI RINNAI RV-715SLIM SCH ( VP )

1.099.000đ1.190.000đ

GHToàn Quốc

-8%
GIẢM
BẾP GAS ĐÔi RINNAI RV-615SLIM(G)

BẾP GAS ĐÔi RINNAI RV-615SLIM(G)

1.049.000đ1.190.000đ

GHToàn Quốc

-12%
GIẢM

sản phẩm đã xem